Tiếng Việt  |  English 
Phiên bản Mobile
 
  
 
Tên:    Mật khẩu: 
   
 
GIỚI THIỆU 
Tiêu điểm-Bình Luận
 
Mục tiêu số một vẫn là nâng cao chất lượng quả vải
Ngày đăng: 29/6/2012      Số lượt xem: 341      Người đăng: sonbigb
 

Là người đứng đầu một cơ quan nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp, Tiến sĩ Trịnh Khắc Quang và cơ quan của ông luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với cây vải ở Bắc Giang. Nhân chuyến công tác của ông trên đất vải thiều, phóng viên đã có cuộc trò chuyện cùng ông.

Thưa ông, thời gian qua, Viện Nghiên cứu Rau quả (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) đã có những công trình hoặc dự án, đề tài khoa học nào được triển khai nghiên cứu và ứng dụng trên vải thiều ở Bắc Giang?

Viện đã và đang nghiên cứu để đưa vào sản xuất một số loại vải chín sớm, nhằm kéo dài thời gian thu hoạch của vải thiều và đã tuyển chọn được một bộ giống vải chín sớm gồm: Bình Khê (Quảng Ninh), Yên Hưng, Yên Phú (Hưng Yên), Phúc Hoà (Bắc Giang). Đây là giải pháp tốt, có thể giúp kéo dài thời gian thu hoạch 15-20 ngày. Hiện nay các đề tài nghiên cứu của chúng tôi về vải thiều vẫn hướng đến mục tiêu số một là nâng cao chất lượng quả vải, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và xuất khẩu, nhân rộng diện tích vải sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP. Viện cũng đã đề xuất Bộ Nông nghiệp và PTNT cho phép triển khai đề tài Xây dựng chỉ dẫn địa lý Phúc Hoà, Bắc Giang cho vải thiều.

Đại diện một trong "bốn nhà", ông có ý kiến gì về mối liên kết này trong sản xuất và tiêu thụ vải thiều ở Bắc Giang?

Liên kết "bốn nhà" gồm: Nhà nước, nhà khoa học, nhà nông và nhà doanh nghiệp đã được triển khai thực hiện từ hàng chục năm nay song vẫn còn lỏng lẻo, chưa thực sự là động lực thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ nông sản. Việc thực hiện liên kết "bốn nhà" trong sản xuất vải thiều ở Bắc Giang cũng chịu ảnh hưởng chung của mối liên kết này như đối với các ngành hàng khác và ở các địa phương khác. Trong các "mắt xích" thì mối liên kết giữa các nhà khoa học và nhà nông khá tốt cho nên nhiều tiến bộ kỹ thuật đã được triển khai áp dụng như: Việc chuyển đổi cơ cấu giống vải sớm thay thế một phần giống vải thiều chính vụ, tổ chức sản xuất vải an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, các biện pháp kỹ thuật về canh tác, bảo vệ thực vật… đặc biệt là quản lý sâu đục cuống quả vải đã được nghiên cứu và chuyển giao tại các vùng trồng vải ở Bắc Giang. Riêng "mắt xích" liên kết giữa nhà doanh nghiệp với nhà nông trong sản xuất vải thiều vẫn còn hạn chế. Chính vì vậy, vải thiều vẫn bị ảnh hưởng bởi quy luật "được mùa, rớt giá". Nếu chúng ta có các doanh nghiệp đủ mạnh, bao tiêu được sản phẩm để cung ứng ổn định cho thị trường trong và ngoài nước sẽ không bị các tư thương nước ngoài ép giá (như vẫn thường xảy ra đối với vải thiều xuất sang Trung Quốc).

Trên nhiều diễn đàn người ta hay nói "đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật đến với nông dân". Có vẻ như ngày nay "nhà nông" vẫn đóng vai trò thụ động trong quá trình tìm kiếm các giải pháp để phát triển sản xuất?

Việt Nam được đánh giá là nước nông nghiệp có hệ thống khuyến nông khá hoàn chỉnh và hoạt động có hiệu quả từ Trung ương đến địa phương. Hiện tại, việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật (TBKT) cho nông dân thông qua nhiều hình thức như: Qua hệ thống khuyến nông; hệ thống nghiên cứu và đào tạo; qua các doanh nghiệp…

Quá trình chuyển giao TBKT ngoài việc để nông dân áp dụng các TBKT mới còn mục đích quan trọng nữa là để các cơ quan chuyển giao nắm được ý kiến phản hồi của nông dân về các TBKT đó để tiếp tục nghiên cứu và điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn sản xuất. Cho nên nói "người nông dân vẫn đóng vai trò thụ động trong quá trình tìm kiếm các giải pháp để phát triển sản xuất" cũng chưa hoàn toàn chính xác. Ở các nước tiên tiến, nông dân có quy mô sản xuất lớn (hàng chục cho đến hàng ngàn ha) thì khuyến nông được coi như một dịch vụ đầu vào của sản xuất nông nghiệp. Để có dịch vụ khuyến nông, người nông dân phải trả tiền nên họ hoàn toàn chủ động trong việc yêu cầu dịch vụ khuyến nông cần thiết cho sản xuất của mình. Ở Việt Nam, để tăng tính chủ động trong việc yêu cầu các nội dung khuyến nông, nông dân có thể đề xuất với hệ thống khuyến nông từ cấp cơ sở để các cấp có thẩm quyền xây dựng nội dung khuyến nông cho phù hợp hằng năm. Các viện nghiên cứu, nhà trường và các đơn vị tham gia khuyến nông sẵn sàng đáp ứng những yêu cầu về chuyển giao TBKT phục vụ sản xuất.

Khi đưa TBKT vào sản xuất nông nghiệp thường có tình trạng "hết dự án là hết mô hình". Theo ông giải pháp nào khắc phục tình trạng này?

Trong thực tế đã có những trường hợp dự án chỉ được triển khai thực hiện khi có kinh phí, khi hết kinh phí, hết dự án thì mô hình đó cũng không còn tồn tại. Lý do cơ bản của việc này là vì TBKT đó chưa tốt, chưa thực sự phục vụ cho nhu cầu của nông dân và của thực tiễn sản xuất. Nếu những TBKT thực sự tốt, có ý nghĩa đối với sản xuất thì không cần tuyên truyền, quảng cáo, không cần dự án, không cần hỗ trợ về kinh phí… nông dân vẫn triển khai. Cho nên nói "hết dự án là hết mô hình" cũng chỉ đúng ở một số trường hợp cụ thể. Tuy vậy, điều tiên quyết để TBKT chuyển giao cho sản xuất thành công là TBKT đó phải có ý nghĩa thực sự, giải quyết những yêu cầu của thực tiễn sản xuất. Để có được những TBKT như vậy cần có sự liên kết chặt chẽ giữa nhà nước, nhà khoa học và nhà nông. Nhà nông đặt hàng cho nghiên cứu và chuyển giao TBKT, Nhà nước giao nhiệm vụ và tạo điều kiện để các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu và nhà khoa học tạo ra các sản phẩm KHCN đáp ứng yêu cầu của sản xuất. Khi sự liên kết này vận hành tốt thì tình trạng "hết dự án là hết mô hình" sẽ được giải quyết.

Vải thiều Bắc Giang là loại quả ngon và đã trở thành một thương hiệu nhưng bước tiến của nó ra thị trường quốc tế vẫn còn hạn chế. Dưới góc độ nhà khoa học, ông lý giải vấn đề này như thế nào?

Vải thiều Bắc Giang là cây ăn quả được trồng tập trung lớn nhất so với các loài cây ăn quả khác ở Việt Nam, đã có thương hiệu nổi tiếng trong nước và trên thế giới. Tuy vậy, vải thiều Bắc Giang hiện tại chủ yếu được tiêu thụ nội địa, một phần xuất khẩu tươi sang Trung Quốc và một phần rất nhỏ được sử dụng cho chế biến. Hạn chế trong tiêu thụ nói chung và trong xuất khẩu vải tươi là do thời gian thu hoạch ngắn (chỉ khoảng 25-30 ngày); quả vải tươi bị giảm chất lượng rất nhanh trong quá trình vận chuyển; giá trị vải tươi chưa cao nên không thể vận chuyển bằng đường hàng không để xuất khẩu sang nước ngoài, nếu vận chuyển bằng đường biển phải có giải pháp bảo quản thích hợp; diện tích sản xuất vải an toàn theo VietGAP còn hạn chế và chưa có doanh nghiệp đủ mạnh làm đầu mối thu gom xuất khẩu vải thiều. Với những lý do trên, vải thiều Bắc Giang mới chỉ xuất khẩu được sang Trung Quốc, thị trường gần Việt Nam về mặt địa lý và yêu cầu về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm không cao. Còn với thị trường quốc tế khác khó tính hơn như châu Âu, châu Mỹ, Nhật Bản, vải thiều rất khó hoặc chưa tiếp cận được…

Vải thiều và rau chế biến là hai loại cây chủ lực trong chương trình phát triển nông nghiệp hàng hoá của Bắc Giang xin. Ông "hiến kế" giúp nông dân Bắc Giang thu được hiệu quả kinh tế cao từ hai loại cây trồng này?

Đối với vải thiều: Cần rà soát lại quy hoạch vùng sản xuất vải ở Bắc Giang, kiên quyết xóa bỏ những vùng có điều kiện sinh thái không thuận lợi cho cây vải thiều. Cân đối lại cơ cấu giống vải cho toàn tỉnh: Tỷ lệ vải chín sớm, tỷ lệ vải chính vụ cho phù hợp. Chú ý không phát triển vải sớm với tỷ lệ quá cao, nếu tỷ lệ vải sớm cao quá sẽ không có ý nghĩa tăng hiệu quả kinh tế. Tăng cường quản lý chất lượng vải thiều, tăng diện tích sản xuất vải được áp dụng VietGAP và áp dụng theo các tiêu chuẩn khác (như GlobalGAP) khi thị trường ngoài nước có yêu cầu. Tỉnh cần có cơ chế khuyến khích để các doanh nghiệp đủ mạnh có khả năng đầu tư cho nông dân sản xuất, giám sát chất lượng, tổ chức thu mua và chủ động xuất khẩu vải thiều. Trước tiên là chủ động đối với thị trường Trung Quốc, sau đó sẽ khai thác các thị trường tiềm năng khác (Nhật, EU, Mỹ…). Tăng cường làm phong phú các sản phẩm chế biến từ vải theo yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.

Đối với rau: Quy hoạch vùng và triển khai sản xuất rau an toàn (áp dụng VietGAP) cung cấp cho thị trường nội tỉnh và Thủ đô Hà Nội, quy hoạch vùng rau cho các nhà máy chế biến. Cần quan tâm đến việc sản xuất những chủng loại rau và những sản phẩm chế biến theo yêu cầu của thị trường. Ứng dụng một số công nghệ tiên tiến để sản xuất rau an toàn, trái vụ như: Sử dụng vòm che thấp để sản xuất các loại rau ăn lá ôn đới trong vụ hè; sử dụng cây cà chua ghép để sản xuất cà chua vụ thu đông (vụ sớm) có thể cho năng suất trên 100 tấn/ha, thời gian sinh trưởng khoảng 7-8 tháng…

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Báo Bắc Giang
 
Chia sẻ:
images/share/facebook_48.png images/share/yahoo_48.jpg images/share/twitter_48.png images/share/zingme_48.png images/share/google_48.png images/share/myspace_48.png images/share/myspace_48.png
Ý kiến của bạn:
Số ký tự còn lại
 
Các ý kiến đã gửi:

Phần tiếp theo[Quay về] 
 
    Nông nghiệp công nghệ cao: Đầu tư còn chưa tương xứng với tiềm năng
    Bao giờ hiện thực hóa cây trồng biến đổi gen?
    Liên kết để tạo ra sản lượng lớn
    Xuất khẩu gạo: Dẫn đầu vẫn kém vui
    Sản xuất lúa ở ĐBSCL: Mất hàng chục nghìn tỷ đồng vì thiếu máy móc
    Chỉ có khoảng 6% doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp
    Bi kịch chè Việt: Khó thoát tiếng hàng bẩn
    Mở lại mục 'Ý kiến bình luận'
    Tổ chức lại sản xuất – Yêu cầu bức thiết ở Đồng bằng sông Cửu Long
    Thay đổi đường link của Trang tin Ngân hàng Kiến thức trồng Lúa và Kiến thức trồng Ngô
 
  • Xem danh sách tin thuộc nhóm tin này


  •   :: TIN MỚI NHẤT
    Nông nghiệp công nghệ cao: Đầu tư còn chưa tương xứng với tiềm năng
    Bao giờ hiện thực hóa cây trồng biến đổi gen?
    Liên kết để tạo ra sản lượng lớn
    Xuất khẩu gạo: Dẫn đầu vẫn kém vui
    Sản xuất lúa ở ĐBSCL: Mất hàng chục nghìn tỷ đồng vì thiếu máy móc

      :: TIN ĐỌC NHIỀU NHẤT
    GAP - Vô số cái lợi
    Chỉ có khoảng 6% doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp
    Nông nghiệp công nghệ cao: Đầu tư còn chưa tương xứng với tiềm năng
    Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp, nông thôn
    Nhà khoa học chưa gặp được nhà nông
     .: CÁC ĐƠN VỊ THÀNH VIÊN :.
    Trang chủ |  Liên hệ   |  Thông tin Website   |  Danh sách Website VAAS   |  Tải VAAS Toolbar  
     
     Trang tin điện tử của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. Cơ quan chủ quản: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
     Giấy phép của Bộ Văn hoá thông tin số 114/GP-BC ngày 23/3/2007. Người chịu trách nhiệm: Phó Giám đốc Nguyễn Văn Tuất
     Trụ sở : Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội Điện thoại: 84-4-38615487 Fax: 84-4-38613937
    Phát triển năm 2007 bởi
    Nguyễn Trường Sơn