Tên Trung tâm: TRUNG TÂM TÀI NGUYÊN THỰC VẬT.
Tên tiếng Anh: Plant Rerources Center – PRC
Được thành lập theo Quyết định số 220/2005/QĐ-TTg ngày 09/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ Thành lập Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam;
Chức năng:
1. Trung tâm Tài nguyên thực vật được thành lập theo điểm "k" Khoản "1" Điều 2 của Quyết định số: 220/QĐ-TTg ngày 09/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ Thành lập Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.
2. Trung tâm Tài nguyên di truyền thực vật là đơn vị sự nghiệp khoa học, trực thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, có nhiệm vụ nghiên cứu, thu thập, bảo tồn và khai thác sử dụng tài nguyên thực vật quốc gia.
3. Trung tâm được Nhà nước đầu tư và cấp kinh phí hoạt động, được sử dụng con dấu và mở tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Nhiệm vụ:
1. Xây dựng chương trình, dự án, kế hoạch nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ về bảo tồn tài nguyên thực vật dài hạn, năm năm và hàng năm, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện.
2. Thực hiện nghiên cứu khoa học (có bao gồm nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản có định hướng) và chuyển giao công nghệ về các lĩnh vực:
a) Duy trì và phát triển ngân hàng gen thực vật Quốc gia bao gồm: Thu thập và lưu giữ nguồn gen tại ngân hàng gen: Hạt giống, đồng ruộng, invitro và ADN; đánh giá, tư liệu hoá; thông tin, cấp phát nguồn gen để nghiên cúu khoa học, mở rộng sản xuất và phục vụ chọn tạo giống;
b) Xây dựng giải pháp bảo tồn và khai thác sử dụng tài nguyên thực vật gồm: Đa dạng di truyền; công nghệ sinh học; sinh lý và kỹ thuật hạt giống; làm giàu quỹ gen; ứng dụng tin học vào quản lý dữ liệu và thông tin tài nguyên thực vật;
c) Bảo tồn thông qua sử dụng tài nguyên thực vật, phát triển và duy trì các điểm bảo tồn insitu nguồn gen cây trồng;
d) Đa dạng sinh học nông nghiệp, động thái biến động đa dạng thực vật;
đ) Điều phối hoạt động màng lưới bảo tồn quỹ gen cây trồng.
3. Thực hiện hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, hợp tác chuyên gia và đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực tài nguyên thực vật theo quy định của Nhà nước.
4. Liên kết, hợp tác về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, thử nghiệm kỹ thuật mới, đào tạo nguồn nhân lực thuộc lĩnh vực được giao với các tổ chức trong nước theo quy định của pháp luật.
5. Quản lý sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, kinh phí, tài sản được giao theo đúng quy định của pháp luật.
Cơ cấu tổ chức:
Giám đốc: PGS.TS Lưu Ngọc Trình
Phó giám đốc: TS. Nguyễn Thị Ngọc Huệ, THs.Trần Danh Sửu.
Phòng nghiệp vụ giúp việc Giám đốc thực hiện nhiệm vụ:
a) Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế,
b) Phòng Tổ chức, Hành chính,
c) Phòng Tài chính kế toán,
Các Phòng có Trưởng Phòng và Phó Trưởng phòng.
Tuỳ theo điều kiện cụ thể, Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam có thể quyết định thành lập phòng quản lý tổng hợp nhưng không vượt quá 3 phòng nêu trên.
Các đơn vị nghiên cứu:
a) Bộ môn Quản lý Ngân hàng gen;
b) Bộ môn Nhân giống và Đánh giá nguồn gen;
c) Bộ môn Bảo tồn insitu và khai thác nguồn gen;
d) Bộ môn Dữ liệu và thông tin tài nguyên thực vật;
e) Bộ môn Đa dạng sinh học nông nghiệp;
Bộ môn có Trưởng Bộ môn và Phó Trưởng Bộ môn.
Biên chế cán bộ:
Trung tâm hiện có 48 cán bộ công nhân viên trong đó có ba Tiến sỹ, bảy Thạc sỹ, 23 Kỹ sư và Cử nhân. Tập thể cán bộ nghiên cứu gồm nhiều chuyên ngành: Nông học, Kinh tế, Sinh học ...
Phương hướng hoạt động
• Thu thập theo thứ tự ưu tiên tại các vùng có nguy cơ xói mòn nguồn gen cao và nhập nội có định hướng 1.800 giống của khoảng 100 loài cây trồng.
• Hàng năm lưu giữ tốt số giống đã có và các giống mới thu thập, nhập nội về. Dự kiến đến cuối năm 2005 số giống được bảo tồn trong cả nước là 20.000 của 200 loài, trong đó tại NHGCTQG là 15.000. Mỗi năm nhân giống NHG khong 20% tổng số giống đang lưu giữ tại NHG hạt giống. Cứu phôi NHG và vi nhân giống những giống dễ bị mất
• Giữ tiến độ đánh giá ban đầu 50 - 70% số giống của từng loài đang lưu giữ - Đánh giá chi tiết 4.000 - 5.000 lợt giống x tính trạng mỗi năm - Sử dụng các phng pháp sinh học mới để đánh giá đa đạng di truyền các nhóm nguồn gen đại diện
• Quản lý dữ liệu và thông tin TNDTTV: Đến năm 2005 hoàn thành bốn nội dung chính: - Phần mềm quản lý TNDTTV bằng tiếng Việt áp dụng thống nhát trên toàn quốc - Web site về TNDTTV của Việt Nam có đủ lượng thông tin cần thiết cho các đối tượng truy cập trong nước và tuyên truyền quốc tế - In ấn thông tin TNDTTV các dạng sách chuyên khảo, catalog, bản tin (newsleter), tờ bướm (brochure) cho các đối tượng sử dụng khác nhau - Cấp phát, trao đổi thông tin TNDTTV theo Quy chế cấp phát thông tin nguồn gen
• Tăng cường điều phối và quản lý mọi mặt chuyên môn nghiệp vụ đối với các tập đoàn quỹ gen mới hình thành như Cafe, Chè tại Trung tâm Cafe chè Ba Vì, Cây cải tạo đất tại Viện Nông hoá - Thổ nhưỡng, Hoa, Cây cnh tại Viện Di truyền nông nghiệp, Rau nhiệt đới miền nam tại Viện Khoa học nông nghiệp Miền nam, Rau ôn đới Đà Lạt tại Trung tâm Cây thực phẩm Đà Lạt.
• Khai thác sử dụng nguồn gen
Hợp tác quốc tế
Những đối tác, nội dung và kết quả hợp tác quốc tế:
+ Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) trong các lĩnh vực: Đào tạo cán bộ ngắn hạn, hợp tác về thu thập quỹ gen lúa, cung cấp thông tin, tài liệu về bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật.
+ Viện sinh học nông nghiệp quốc gia Nhật Bản trong các lĩnh vực: Đào tạo cán bộ ngắn hạn, hợp tác về thu thập quỹ gen lúa, hợp tác nghiên cứu, đánh giá ở mức độ sinh học phân tử đa dạng di truyền tài nguyên lúa đặc sản
+ Viện tài nguyên di truyền thực vật Quốc tế (IPGRI) trong các lĩnh vực đào tạo cán bộ ngắn hạn, hợp tác nghiên cứu khao học về bảo tồn in-situ, về quản lý dữ liệu tài nguyên di truyền thực vật, cung cấp thông tin, tài liệu về bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật.
+ Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu Châu Á (AVRDAC) trong đề tài “Khai thác nguồn gen rau địa phương”
+ Viện tài nguyên di truyền thực vật Quốc tế trong các vấn đề về bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật
+ Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế trong các vấn đề về bảo tồn quỹ gen lúa
+ Viện sinh học nông nghiệp quốc gia Nhật Bản trong các vấn đề về nghiên cứu đánh giá đa dạng di truyền ở mức độ sinh học phân tử
+ Cơ quan Hợp tác quốc tế JICA của Nhật Bản xin Dự án Viện trợ không hoàn lại về xây dựng Ngân hàng gen thực vật Quốc gia
+ Ngân hàng gen thực vật thuộc Bộ nông nghiệp Mỹ trong một số vấn đề về bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật
+ Viện nghiên cứu di truyền thực vật và Cây trồng Cộng hoà liên bang Đức trong việc đào tạo cán bộ chuyên ngành và một số vấn đề về bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật
+ Tổ chức nông lương thế giới FAO về vấn đề bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên di truyền thực vật phục vụ cho mục tiêu lương thực và nông nghiệp.
Những thành tựu khoa học công nghệ giai đoạn 2001-2005 và định hướng nghiên cứu giai đoạn 2006-2010
Bảo tồn quỹ gen cây trồng đã trở thành nhiệm vụ khoa học thường xuyên cấp nhà nước từ năm 1987, sau khi Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, nay là Bộ Khoa học và Công nghệ, ban hành Quy chế lâm thời về bảo tồn nguồn gen. Năm 1989 Tổ Quỹ gen cây trồng thuộc Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam được thành lập. Năm 1990 cơ sở của Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia được hình thành, ban đầu lưu giữ 1300 giống lúa. Năm 1996, Trung tâm Tài nguyên di truyền thực vật trực thuộc Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam được thành lập, và là cơ quan đầu mối của các hoạt động bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật vì mục tiêu lương thực và nông nghiệp trong cả nước. Để tăng cường hơn nữa chương trình quốc gia về bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên di truyền thực vật, tháng 9 năm 2005 Chính phủ đã quyết định thành lập Trung tâm Tài nguyên thực vật trực thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam trên cơ sở Trung tâm Tài nguyên di truyền thực vật của Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam cũ. Chức năng và nhiệm vụ của Trung tâm cũng được sửa đổi, và nguồn lực được tăng cường để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về bảo tồn và khai thác, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thực vật giầu có và phong phú của đất nước.
Trong giai đoạn 2001-2005 hoạt động bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật do Trung Tâm Tài nguyên di truyền thực vật điều phối luôn được tăng cường về mọi mặt và đã đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần thúc đẩy phát triển một nền nông nghiệp bền vững và hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Trung tâm đã tạo lập được cơ sở của Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia, bao gồm Ngân hàng gen hạt giống, Ngân hàng gen đồng ruộng và Ngân hàng gen in vitro; đã hình thành nền móng của Hệ thống bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật Quốc gia bao gồm 20 thành viên là các cơ quan nghiên cứu trên toàn quốc; và đã từng bước hình thành chuyên ngành khoa học về bảo tồn nguồn gen cây trồng của Việt Nam.
KẾT QUẢ VÀ THÀNH TỰU NỔI BẬT 2001 - 2005
Điều tra thu thập
Trong các năm 2001 – 2005, Trung tâm Tài nguyên di truyền thực vật đã tổ chức nhiều chuyến điều tra, thu thập quỹ gen cây trồng và đã thu thập trên 2.000 giống của hơn 50 loài cây trồng từ những vùng có nguy cơ xói mòn cao. Trong số giống đã thu thập đó có 1.600 giống được thu thập trong các năm 2001 – 2002 nhờ vốn của Chương trình giống quốc gia. Trung tâm đã điều tra tài nguyên cây nhiệt đới chịu hạn, bao gồm nhãn, điều và cây ăn quả có múi tại Ninh Thuận, cây xoài (Mangifera spp.) ở thung lũng Yên Châu, Sơn La, vải ngọt (Litchi chinesis) ở các tỉnh phía Bắc, và cây Chùm Ngây (Moringa oleifera) ở Nam Trung bộ; nhập nội có định hướng 385 giống của nhiều loài cây trồng từ một số nước và các tổ chức nghiên cứu quốc tế. Các cơ quan trong Màng lưới Tài nguyên di truyền thực vật quốc gia cũng đã điều tra và thu thập nguồn gen của nhiều loài cây trồng: cà phê, bông, chè, mía, dâu tằm, điều, thanh long, cam, chuối....
Lưu giữ nguồn gen
Tính đến cuối năm 2005, tại Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia gần 13.300 giống của 115 loài cây trồng được lưu giữ, bao gồm:
- Ngân hàng hạt giống: 11.600 giống của 83 loài cây trồng sinh sản bằng hạt
- Ngân hàng gen đồng ruộng: 1.700 giống của 32 loài cây trồng sinh sản vô tính
- Ngân hàng gen in vitro: 83 giống khoai môn, khoai sọ khó lưu giữ trên đồng ruộng.
Các kỹ thuật nhân giống thích hợp đã được áp dụng cho từng loài cây để nhân và duy trì đủ số lượng hạt/cây/chồi đảm bảo lưu giữ an toàn các giống trong tập đoàn. Đặc biệt, phương pháp cứu phôi đã được áp dụng cho trên 260 giống của các loài có sức nảy mầm của hạt kém. Phương pháp bảo tồn các loài cây sinh sản bằng hạt giống orthodox, hạt giống recalcitrant, và cây sinh sản vô tính thường niên và lưu niên từng bước được chuẩn hoá theo tiêu chuẩn quốc tế.
Tại các cơ quan màng lưới của Hệ thống bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật Quốc gia, trên 5.000 giống của hơn 100 loài cây được lưu giữ trong các tập đoàn trên đồng ruộng.
Trong các năm qua, bảo tồn insitu (bảo tồn nội vi) tài nguyên di truyền thực vật cũng được quan tâm phát triển. Cơ sở khoa học cho việc bảo tồn insitu và vai trò của vườn gia đình trong bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật, đặc biệt là đa dạng di truyền của các loài rau bản địa được nghiên cứu và tăng cường. Với sự tham gia của cộng đồng nông dân một số mô hình đã được xây dựng để bảo tồn insitu các loài cây như mướp, thảo quả, khoai môn, khoai sọ, lúa đặc sản...
Đánh giá và thông tin, tư liệu hoá
Trung tâm Tài nguyên di truyền thực vật đã tiến hành đánh giá 50 – 62 tính trạng hình thái nông học của 10.400 lượt giống theo các mẫu mô tả, đánh giá đã được xây dựng và chuẩn hoá cho Hệ thống bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật Quốc gia; đánh giá tính kháng sâu bệnh của trên 7.000 lượt giống x tính trạng.
Trung tâm cũng đã khai thác và sử dụng phần mền quản lý dữ liệu của ngân hàng gen quốc tế, tạo lập phần mền song ngữ Việt-Anh của Việt Nam, từng bước hoàn thiện hệ thống thông tin tư liệu tài nguyên di truyền thực vật, tạo lập trang Web về tài nguyên di truyền thực vật (Trung tâm cũng đã khai thác và sử dụng phần mền quản lý dữ liệu của ngân hàng gen quốc tế, tạo lập phần mền song ngữ Việt-Anh của Việt Nam, từng bước hoàn thiện hệ thống thông tin tư liệu tài nguyên di truyền thực vật, tạo lập trang Web về tài nguyên di truyền thực vật (http://www.pgrvietnam.org.vn). Đặc biệt, một cơ chế chia sẻ thông tin quốc gia đã được xây dựng phục vụ việc triển khai kế hoạch hành động toàn cầu về bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên di truyền thực vật phục vụ mục tiêu lương thực và nông nghiệp.
Khai thác, sử dụng nguồn gen
Trong giai đoạn 2001-2005, Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia đã cấp phát 3.494 lượt giống và 4.250 lượt dữ liệu phục vụ các mục tiêu sử dụng khác nhau, góp phần tích cực cho công tác giống cây trồng. Giống đậu xanh NTB-01 do Trung tâm nghiên cứu Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ bình tuyển từ các nguồn gen đậu xanh do Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia cung cấp đã được công nhận là giống quốc gia.
Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia cũng đã nghiên cứu bình tuyển, phục tráng, chọn lọc và thử nghiệm một số dòng/giống cây trồng để phát triển trong sản xuất: giống khoai môn KMC-1 và KMN-1, khoai sọ KS-5, lúa nếp Quýt đặc sản, lúa thơm ngắn ngày LT-3, lúa nếp thơm ngắn ngày NT-96, giống hoa Uất Kim Cương Tím, giống đậu tương nhập nội TN1, đậu tương cao sản DT-2006 ... Đặc biệt, giống khoai sọ KS4 và giống hoa Đuôi chồn đỏ đã được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật (giống quốc gia).
Nghiên cứu đa dạng di truyền
Phòng Thí nghiệm Đa dạng sinh học thuộc Trung tâm Tài nguyên di truyền thực vật tuy mới được thành lập nhưng đã nghiên cứu và áp dụng thành công một số kỹ thuật sinh học phân tử để đánh giá đa dạng di truyền nguồn gen lúa tám thơm đặc sản và phân loại nguồn gen cây xoài (Mangifera spp.). Đa dạng di truyền cây mướp, khoai môn sọ, và một số loài đậu cũng đã được đánh gía.
Phòng Thí nghiệm Đa dạng sinh học thuộc Trung tâm Tài nguyên di truyền thực vật tuy mới được thành lập nhưng đã nghiên cứu và áp dụng thành công một số kỹ thuật sinh học phân tử để đánh giá đa dạng di truyền nguồn gen lúa tám thơm đặc sản và phân loại nguồn gen cây xoài . Đa dạng di truyền cây mướp, khoai môn sọ, và một số loài đậu cũng đã được đánh gía.
Đào tạo
Trong các năm 2001-2005, Trung tâm đã kết hợp tốt giữa nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và đào tạo cán bộ, kết quả là 02 nghiên cứu sinh đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ, 9 cán bộ đã bảo vệ luận văn thạc sỹ, 10 cán bộ đang học tiến sỹ và thạc sỹ ở trong và ngoài nước, và trên 20 lượt cán bộ đã hoàn thành các khoá đào tạo ngắn hạn ở nước ngoài.
ĐỊNH HƯỚNG GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
Phấn đấu hoàn thành tốt các chức năng và nhiệm vụ đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn giao cho từ ngày thành lập Trung tâm tháng 9 năm 2005, Trung tâm Tài nguyên Thực vật, với cương vị là cơ quan điều phối quốc gia đã xác định phương hướng giai đoạn 2006 – 2010 như sau:
Hoàn thành tốt dự án “Xây dựng Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia” nhằm tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực phục vụ bảo tồn hiệu quả tài nguyên di truyền thực vật phục vụ mục tiêu phát triển lâu dài của đất nước;
Hoàn thiện các khâu kỹ thuật về bảo tồn quỹ gen cây trồng tại Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia và các cơ quan thành viên của Hệ thống bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật Quốc gia ;
Thu thập và bảo tồn exsitu (bảo tồn ngoại vi) nguồn gen cây trồng và các loài họ hàng, hoang dại có giá trị từ các vùng có nguy cơ xói mòn cao trong cả nước; thu thập và bảo tồn nguồn gen do các đề tài chọn tạo giống tạo ra;
Tiếp tục nhập nội và đánh giá nguồn gen nhập nội nhằm tăng cường đa dạng nguồn gen cây trồng và cung cấp vật liệu cho các chương trình chọn tạo giống;
Điều phối tốt và tiếp tục phát triển Hệ thống bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật Quốc gia;
Tăng cường quan hệ quốc tế cộng tác về bảo tồn và khai thác sự dụng bền vững tài nguyên di truyền thực vật vì quyền lợi của dân tộc và cộng đồng quốc tế.
Số 1660/QĐ-TTg ngày 7/11/2012 Quyết định phê duyệt Đề án phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đến năm 2020 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
Số 54/2012/TT-BNNPTNT ngày 30/10/2012 Thông tư sửa đổi Thông tư 10/2012/TT-BNNPTNT về Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam và Thông tư 22/2012/TT-BNNPTNT sửa đổi Thông tư 10/2012/TT-BNNPTNT do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
Số 23/2012/TT-BLĐTBXH ngày 18/10/2012 Thông tư sửa đổi Thông tư 19/2008/TT-BLĐTBXH về sửa đổi Thông tư 03/2007/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 152/2006/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm bắt buộc do Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành
Số 68/QĐ-KHNN-TCCB ngày 21/1/2013 Về việc bổ nhiệm cán bộ (Ông Nguyễn Hoàng Long giữ chức Phó Trưởng Ban Thông tin - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam).
Trang tin điện tử của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. Cơ quan chủ quản: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Giấy phép của Bộ Văn hoá thông tin số 114/GP-BC ngày 23/3/2007. Người chịu trách nhiệm: Phó Giám đốc Nguyễn Văn Tuất
Trụ sở : Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội Điện thoại: 84-4-38615487 Fax: 84-4-38613937